Bài 1. Tập hợp
Làm quen với tập hợp, phần tử, kí hiệu thuộc và không thuộc, hai cách mô tả một tập hợp cùng các tập $\mathbb{N}$, $\mathbb{N}^*$.
Tập hợp và phần tử của tập hợp
Khi gom những đối tượng nhất định lại với nhau, ta được một tập hợp (gọi tắt là tập). Mỗi đối tượng trong đó gọi là một phần tử của tập hợp. Tập hợp thường được đặt tên bằng chữ cái in hoa.
| Kí hiệu | Đọc là | Ví dụ với A ở trên |
|---|---|---|
| thuộc | ||
| không thuộc |
Mô tả một tập hợp
Mô tả một tập hợp là cho biết cách xác định các phần tử của nó. Có hai cách:
- Liệt kê các phần tử của tập hợp, tức là viết các phần tử trong dấu ngoặc nhọn theo thứ tự tuỳ ý nhưng mỗi phần tử chỉ được viết một lần. Ví dụ .
- Nêu dấu hiệu đặc trưng cho các phần tử của tập hợp. Ví dụ tập gồm các số 0; 1; 2; 3; 4; 5 còn viết được là số tự nhiên nhỏ hơn .
- Các chữ cái là T, O, A, N (dấu thanh không tính là chữ cái riêng).
- Mỗi chữ chỉ viết một lần, các phần tử cách nhau bởi dấu ";".
Chú ý. Tập hợp các số tự nhiên kí hiệu là , tức là . Tập hợp các số tự nhiên khác 0 kí hiệu là , tức là .
Viết có nghĩa là một số tự nhiên. Chẳng hạn tập các số tự nhiên nhỏ hơn 6 có thể viết là hoặc .
- thuộc nên là số tự nhiên khác 0.
- nên nhận các giá trị 1, 2, 3.
Mở rộng
Tập hợp có hữu hạn phần tử (đếm xong được) gọi là tập hữu hạn, ví dụ các tháng có 30 ngày trong năm dương lịch. Tập có vô số phần tử nên gọi là tập vô hạn.
Tập hợp không có phần tử nào gọi là tập rỗng, kí hiệu . Ví dụ, tập các số tự nhiên vừa lớn hơn 5 vừa nhỏ hơn 6 là tập rỗng, vì giữa 5 và 6 không có số tự nhiên nào.
Lí thuyết tập hợp được phát triển mạnh vào cuối thế kỉ XIX nhờ các nghiên cứu của nhà toán học người Đức Georg Cantor (1845 – 1918). Tập gồm các phần tử chung của hai tập và gọi là giao của và , kí hiệu .