Bài 30. Nguyên sinh vật
Đa số nguyên sinh vật là cơ thể đơn bào, nhân thực, kích thước hiển vi, sống ở nước và nơi ẩm; có vai trò trong tự nhiên và đời sống nhưng một số gây bệnh như sốt rét, kiết lị.
Đa dạng nguyên sinh vật
Khi quan sát một giọt nước ao, hồ, cống, rãnh bằng kính hiển vi sẽ thấy rất nhiều nhóm sinh vật khác nhau, trong đó có nguyên sinh vật. Đa số nguyên sinh vật là những cơ thể đơn bào, nhân thực, có kích thước hiển vi. Một số nguyên sinh vật có cấu tạo đa bào, nhân thực, có thể quan sát bằng mắt thường.
| Nguyên sinh vật | Nơi sống và đặc điểm |
|---|---|
| Trùng roi xanh | Sống ở bề mặt ao, hồ; di chuyển bằng roi bơi |
| Trùng biến hình (amip) | Sống ở bề mặt ao, hồ; hình dạng luôn thay đổi do hình thành chân giả để di chuyển và bắt mồi |
| Trùng giày | Sống ở bề mặt nước cống, rãnh hoặc nước đục; di chuyển bằng lông bơi |
| Trùng sốt rét | Sống bắt buộc trong tuyến nước bọt của muỗi Anophen và trong máu của người, gây bệnh sốt rét |
| Tảo lục đơn bào | Sống ở các ao, hồ, mương, rãnh và nơi đất ẩm; tế bào có lục lạp chứa diệp lục |
| Tảo silic | Sống trôi nổi hoặc sống bám dưới nước, trên đất, đá ẩm; tế bào có lục lạp chứa diệp lục |
Vai trò của nguyên sinh vật
Vai trò trong tự nhiên: tảo có khả năng quang hợp nên có vai trò quan trọng trong việc cung cấp oxygen cho các động vật dưới nước. Nguyên sinh vật còn là nguồn thức ăn cho các động vật lớn hơn. Một số nguyên sinh vật sống cộng sinh tạo nên mối quan hệ cần thiết cho sự sống của các loài động vật khác.
Vai trò đối với con người: một số tảo có giá trị dinh dưỡng cao được chế biến thành thực phẩm chức năng bổ sung dinh dưỡng như tảo xoắn *Spirulina*. Nhiều loại rong biển (tảo) được dùng làm thức ăn và trong chế biến thực phẩm (chất tạo thạch trong tảo được chiết xuất để làm đông thực phẩm như thạch,...). Chúng còn được dùng trong sản xuất chất dẻo, chất khử mùi, sơn, chất cách điện, cách nhiệt,... Một số nguyên sinh vật có vai trò quan trọng trong các hệ thống xử lí nước thải và chỉ thị độ sạch của môi trường nước.
Một số bệnh do nguyên sinh vật
Nhiều loài nguyên sinh vật gây bệnh cho động vật (như cá, tôm,...). Đặc biệt, chúng gây nhiều bệnh nguy hiểm cho con người như: bệnh sốt rét, bệnh kiết lị, bệnh ngủ li bì,...
| Bệnh sốt rét | Bệnh kiết lị | |
|---|---|---|
| Tác nhân gây bệnh | Trùng sốt rét *Plasmodium* | Amip lị *Entamoeba* |
| Con đường lây bệnh | Truyền theo đường máu, qua vật truyền bệnh là muỗi Anophen | Ăn, uống phải thức ăn, nước uống có chứa bào xác của amip lị |
| Biểu hiện bệnh | Rét run, sốt và đổ mồ hôi | Đau bụng, đi ngoài, phân có thể lẫn máu và chất nhầy, cơ thể mệt mỏi vì mất nước và nôn ói |
Khi muỗi mang trùng sốt rét đốt người, mầm bệnh trong nước bọt của muỗi đi vào mạch máu, chui vào tế bào gan và nhân lên rất nhanh; sau đó chúng xâm nhập vào hồng cầu để sinh sản rồi phá vỡ hồng cầu, cứ như vậy phá huỷ hàng loạt hồng cầu. Amip lị kí sinh trong thành ruột của người, ăn hồng cầu và có thể theo máu vào gan gây sưng gan; chúng có khả năng hình thành bào xác, bào xác theo phân của người bệnh ra ngoài.
Mở rộng
Trong môi trường nước thải giàu chất dinh dưỡng, tảo sinh trưởng rất nhanh tạo ra số lượng lớn cá thể làm biến đổi màu nước cả một vùng (xanh, đỏ hoặc vàng,... tuỳ loại tảo), gọi là hiện tượng "tảo nở hoa". Sự gia tăng đột biến số lượng tảo làm kìm hãm sự phát triển, thậm chí gây chết hàng loạt cá, tôm và các sinh vật thuỷ sinh khác do nhiều loại tảo tiết chất độc vào nước.
Ở biển, hiện tượng này còn gọi là "thuỷ triều đỏ", có hậu quả nghiêm trọng hơn: gây chết các sinh vật biển, ô nhiễm môi trường trên phạm vi rộng và gây độc cho cả người khi ăn phải các loại trai, sò,... nhiễm độc.